Dinh Vua Mèo Hoàng A Tưởng

Xưa kia, Hoàng Yến Chao, người dân tộc Tày, là thổ ti cai trị xứ Bắc Hà (tỉnh Lào Cai), dân trong vùng quen gọi là “Vua Mèo” đã cho xây dựng dinh thự tại châu Bắc Hà để khẳng định uy quyền và sự giàu của mình. Gần 100 năm trôi qua, dinh Vua Mèo vẫn đứng sừng sững giữa bao la núi đồi, trở thành một địa điểm du lịch nổi tiếng của Bắc Hà.

Khởi công năm 1914 song đến năm 1921 dinh Vua Mèo mới được hoàn thành. Chủ nhân của đinh là cha con Hoàng Yến Chao, Hoàng A Tưởng. Hoàng A Tưởng cũng là một thổ ti ở Bắc Hà cho đến ngày Lào Cai được giải phóng. Vì thế, ngoài cái tên dinh vua Mèo, người ta còn gọi đây là dinh Hoàng A Tưởng.

Tương truyền, dinh thự vua Mèo Hoàng A Tưởng đươc thầy Tàu về xem thế đất theo phong thủy. Dinh tọa lạc trên một quả đồi rộng ở châu Bắc Hà, nay là trung tâm thị trấn huyện Bắc Hà, phía sau và hai bên đều có núi, phía trước có một dòng suối uốn lượn và có núi thế mẹ bồng con. Thế đất “tựa sơn đạp thủy” vững chãi, với mong muốn dòng họ được quyền quý, con cháu đời sau vinh hiển. Khu dịnh thự vua Mèo đã đạt đến trình độ thiết kế tinh xảo và nổi lên với quy mô đồ sộ tại vùng núi cao xa xôi, hùng vĩ như Bắc Hà.

Dinh Hoàng A Tưởng được hoàn thành từ năm 1921.

Mặt tiền dinh Hoàng A Tưởng.

Cầu thang đi lên sảnh chính.

Từ ban cong dinh Hoàng A Tưởng nhìn ra là một vùng đồi núi.

Cổng chính vào dinh Hoàng A Tưởng.

Cửa sổ tròn hình bông hoa có chức năng lấy ánh sáng.

Sân chính trong khu dinh Hoàng A Tưởng.

Khu dinh thự vua Mèo là một kết cấu kiến trúc khá đặc biệt so với kiến trúc các dinh thự khác tại Việt Nam thời bấy giờ. Dinh vừa là nơi để ở của cha con Hoàng Yến Chao, Hoàng A Tưởng song cũng là nơi làm việc và còn có chức năng pháo đài bảo vệ. Toàn bộ dinh có kiến trúc hình chữ nhật liên hoàn khép kín, với tổng diện tích 4000m2, có tường rào bảo vệ, bốn phía tường đều có lỗ châu mai như pháo đài và có lính canh giữ.

Dinh được hai kiến trúc sư người Pháp và người Trung Quốc thiết kế. Vì vậy, kiến trúc của dinh có sự hòa quyện giữa kiến trúc Pháp hồi thế kỉ 17 -18 và kiến trúc phương Đông. Trong đó nổi lên là các nét kiến trúc phương Tây được thể hiện trong những chi tiết như họa tiết cành nguyệt quế đắp nổi trên các cửa vào, biểu tượng cho hạnh phúc và thịnh vượng; cửa lan can trổ ra hình vòm, cột nhà thanh thoát, lan can, cầu thang vòng, hành lang lát gạch…

Hệ thống cửa vòm, cột tròn và họa tiết trang trí hình lá nguyệt quế theo kiểu Pháp.

Khu nhà ở dành cho người giúp việc.

Mái lợp ngói âm dương cổ kính.

Hành lang lộ thiên nối các dãy nhà với nhau.

Một quầy bán hàng lưu niệm ở Khu dinh Hoàng A Tưởng.

Lời Nguyền Của Thầy Phong Thủy Về Vua Mèo

Vua Mèo Vương Chính Đức có 3 người vợ. Vương Chí Sình là con trai thứ hai của ông với người vợ đầu, chào đời năm 1885. Trong tiếng Mông, tên thật của Vương Chí Sình là Vàng Seo Lử. Vương Chính Đức có 4 người con trai, nhưng chỉ có Vương Chí Sình là người con trai thừa kế những phẩm chất nổi trội nhất của dòng họ Vương và là người kế tục xứng đáng nhất vai trò vua Mèo do Vương Chính Đức để lại.

Sau khi người Pháp ký với ông một hiệp ước hòa bình, ông là người cai trị Đồng Văn và 7 vạn người Mông, dưới sự giám sát của người Pháp trong suốt một thời gian dài. Quãng thời gian đó Đồng Văn tương đối yên bình, không chịu cảnh binh đao, máu lửa. Quãng thời gian đó, ông dành rất nhiều thời gian để đầu tư cho con trai mình là Vương Chí Sình. Từ nhỏ, Vương Chí Sình đã là một người rất thông minh và là đứa con được vua Mèo Vương Chính Đức đặc biệt yêu quý. Vương Chí Sình lớn lên khi người Pháp đã vào Đồng Văn. Nên ngay từ nhỏ, Vương Chí Sình đã tiếp xúc với rất nhiều người Pháp. Vương Chí Sình thuở ấy thường lân la theo chân những người Pháp ở Đồng Văn để học tiếng Pháp. Đó là lý do sau này Vương Chí Sình rất thông thạo Pháp ngữ.

Phần mộ vua Mèo Vương Chính Đức

Khi Vương Chí Sinh đến tuổi đi học, vua Mèo Vương Chính Đức đã cấp tiền, cấp ngựa cho con trai sang Malipho (Trung Quốc) học nên Hán ngữ cũng rất thông thạo. Khi mới lấy vợ, Vương Chí Sình không sống trong dinh thự vua Mèo ở Sà Phìn. Vương Chí Sình xây một căn nhà ở Phó Bảng, mở một cửa hàng buôn bán tạp hóa, dầu hỏa, muối, nước mắm, vải vóc, thuốc phiện với người Pháp. Nhờ việc buôn bán này, Vương Chí Sình trở nên giàu có hơn hẳn những người anh em khác của mình.

Thời trẻ, Vương Chí Sình thường đem thuốc phiện xuống Hà Nội, Hải Phòng để bán rồi lại mua các hàng tạp hóa quay ngược trở lại Đồng Văn. Nhờ quãng thời gian buôn bán kiếm ra vàng, ra bạc đó, Vương Chí Sình mua được căn nhà ở số 55 Hàng Đường – Hà Nội, căn nhà mà sau này Vương Chí Sình khi về Hà Nội làm Đại biểu quốc hội đã sống cho đến lúc chết.

Khi vua Mèo già yếu, người Pháp bắt đầu trở mặt. Chúng bắt đầu từng bước một phá bỏ hiệp ước đã ký với vua Mèo Vương Chính Đức và tăng dần quân số ở Đồng Văn, củng cố sức mạnh của chúng ở khu vực biên giới. Biết được âm mưu của người Pháp, Vương Chính Đức cũng bí mật tăng cường quân đội cho riêng mình. Vương Chính Đức tập hợp những thanh niên trai tráng người Mông, cho họ tập võ, sắm sửa vũ khí, lập nên một đội quân sẵn sàng chống lại người Pháp và đã một lần tổ chức cướp toàn bộ vũ khí, lương thực của Pháp trên đường lên Đồng Văn. Nhưng người Pháp cũng không vừa. Chúng giả bộ cầu hòa mời Vương Chính Đức về Hà Nội tham dự đấu xảo rồi lặng lẽ bắt giam Vương Chính Đức và toàn bộ những thủ lĩnh dưới quyền Vương cho vào tù. Sự an toàn của người Mông bị đe dọa dữ dội. Vương Chính Đức bị đưa về Hà Nội, giam ở nhà giam Hỏa Lò.

Là người con nhanh nhẹn, khôn ngoan và tài giỏi nhất, khi Vương Chính Đức bị bắt, Vương Chí Sình đã tạm hòa hoãn với Pháp và về Hà Nội tìm luật sư để cứu bố. Chính Vương Chí Sình đã bắt liên lạc với tên Trưởng Phòng Nhì của Pháp ở Đông Dương và đút lót cho tên Trưởng Phòng Nhì này. Nhờ những mối quan hệ của tên này với chính phủ Pháp, năm 1938, Vương Chính Đức và những thủ lĩnh người Mông được thả ra trong tình trạng sức khỏe kiệt quệ. Sau lần đó, Vương Chí Sình càng khẳng định được vị trí của mình với vua Mèo Vương Chính Đức và nghiễm nhiên trở thành người kế tục của vua Mèo.

Nếu như vua Mèo Vương Chính Đức là người đã xây dựng lên đế chế của dòng họ Vương ở Đồng Văn, là người đầu tiên tạo ra những câu chuyện huyền thoại về vua Mèo trên cao nguyên đá, thì Vương Chí Sinh lại là người kế tục xuất sắc nhất ngôi “vua Mèo”, đưa sự thống trị của dòng họ Vương đến đỉnh hoàng kim của giàu sang và quyền lực.

Sau khi được công nhận trở thành người kế tục vị trí vua Mèo của Vương Chính Đức. Vương Chí Sình ngày càng khẳng định được quyền lực của mình. Về tài sản, sự giàu có của gia đình họ Vương tăng lên chóng mặt sau kho Vương Chí Sình nắm quyền lực trong tay.

Vương Chí Sình là người nghiện thuốc phiện nặng. Khi mà dinh cơ của vua Mèo cơ man không biết bao nhiêu tấn thuốc phiện, Vương Chí Sình nổi tiếng khắp Đồng Văn là người đốt nhiều thuốc phiện nhất. Ngày đó, mỗi khi có việc đi đâu khỏi nhà, xuống Hà Giang hay đi Hà Nội, Vương Chí Sình đều phải có người khiêng cáng đi, tuyệt đối không đi bộ, đi ngựa. Những người khiêng cáng cho Vương Chí Sình được trả thù lao và con được Vương cho phần thuốc phiện Vương hút thừa. Thường nhựa thuốc phiện có thể hút 3 lần, tuy những xái thuốc phiện lần sau không thể thơm và đậm như lần hút đầu. Nhưng ở Đồng Văn, chỉ có Vương Chí Sình là người chỉ hút thuốc phịên duy nhất một lần rồi bỏ. Phần bỏ đó Vương cho những người khiêng kiệu cho mình. Nghe đồn cứ mỗi chuyến đi theo Vương, mỗi người khiêng kiệu cũng lấy được một lượng lớn thuốc phiện mang về, đủ dùng cho mấy tháng.

Tuy là một vị Vua không ngai, nhưng ở Đồng Văn, có bất cứ tranh chấp, mâu thuẫn nào, người dân Đồng Văn cũng đến nhờ Vương phân xử. Chuyện nào nhỏ, Vương để cho những thuộc hạ dưới quyền Vương coi xét, nhưng chuyện lớn, Vương đích thân đứng ra xử lý. Theo nhà nghiên cứu Hùng Đình Quý, quyền lực của Vương Chí Sình lớn đến nỗi Vương bảo sống thì sẽ sống, bảo chết là phải chết, bảo sai, bảo đúng, người đến thưa kiện đều không dám không nghe. Quyền lực của Vương mạnh đến nỗi người Mông Đồng Văn mỗi khi ra chợ mà nhìn thấy vợ con Vương cưỡi ngựa dọc đường là phải tránh xa, vì sợ xản đường vợ con Vương.

Cũng vì uy quyền của Vương Chí Sình, nên xung quanh Vương cũng thêu dệt lên rất nhiều huyền thoại. Người Mông Đồng Văn từng lưu truyền những câu chuyện về việc Vương Chí Sình đứng lên đứng Nhật. Khi Nhật đánh vào Đông Dương, tiến lên Đồng Văn, Vương Chí Sình đã tập hợp binh lính, đánh tan tác một đại đội quân Nhật. Đó là lần đầu tiên quân Nhật bị tổn thất và thua đau ở Đông Dương. Viện sĩ quan chỉ huy đại đội của Nhật đã bị Vương bắt và giết chết. Tức giận điên cuồng, người Nhật tiếp tục mang quân lên đánh Đồng Văn, tấn công ngôi nhà Vương ở Phó Bảng, định bắt và giết Vương.

Nhưng Vương đã chạy thoát vào các khe núi rồi chạy về Sà Phìn, tiếp tục tổ chức lực lượng đánh Nhật. Điều kỳ lạ là dù quân Nhật mang quân đuổi theo Vương, nhưng Vương cứ chạy đến đâu là mây mù lại che phủ chỗ đó, bảo vệ, che chắn cho Vương. Người Nhật đã bất lực trong việc chiếm Đồng Văn. Người Mông Đồng Văn cũng truyền tai nhau rằng, Vương ban ngày là người, ban đêm là thánh, không ai khuất phục được. Khi Vương bảo vệ được Đồng Văn khỏi người Nhật, giai thoại đó càng được người Đồng Văn tin hơn bao giờ hết.

Năm 1945, sau khi Nhật bị đánh khỏi Đông Dương, Cách mạng tháng Tám thành công, Vương Chí Sình đã được Bác Hồ mời về Hà Nội và đề nghị hợp tác với chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Vương Chí Sình trở thành vị chủ tịch đầu tiên của huyện Đồng Văn.

Lời nguyền của thầy phong thủy

Theo những giai thoại để lại, vua Mèo Vương Chính Đức nhờ nghe được lời của thầy phong thủy, xây nhà trên khu đất phát nên gia đình mới vinh hiển, trở thành Vương một cõi. Nhưng cũng theo những giai thoại kể lại trên cao nguyên đá Đồng Văn, thì đến thời vua Mèo Vương Chí Sình, gia tộc họ Vương lại bị thầy phong thủy làm hại, yểm bùa đến mức suýt nữa thành tuyệt tự.

Vua Mèo Vương Chính Đức có 4 người con trai. Nhưng vua Mèo Vương Chí Sình chỉ có một người con trai duy nhất là Vương Duy Thọ, được sinh khi ông đã tuổi cao sức yếu.

Chuyện kể lại rằng khi còn sống, vua Mèo mắc chứng bệnh đau lưng, chữa mãi không khỏi. Vua Mèo đã cho gọi một thầy tướng rất giỏi người hán đến xem bệnh. Sau khi xem xong, thầy tướng người hán phán rằng: “Mộ của bố ông chôn đúng lưng rồng, phải chuyển mộ”. Vương Chí Sình tin lời làm theo, cho di rồi mộ cha mình là vua Mèo Vương Chính Đức đi. Vương Chí Sình không ngờ mình đã bị thầy tướng người Hán do ghen ghét mà chơi xỏ. Vì lẽ đó mà Vương lấy mấy người vợ đều không sinh được con, chỉ khi lấy người vợ thứ 4, người vợ này mới đẻ cho Vương một người con trai là Vương Duy Thọ.

Trong 4 người vợ của Vương có một người là người Kinh, tên là Trương Mỹ Thuận. Theo ông Vừ Mí Kẻ, Nguyên Phó chủ tịch tỉnh Hà Giang, bà Trương Mỹ Thuận là một người đàn bà xinh đẹp. Ngay lần đầu gặp gỡ, Vương Chí Sình đã lập tức say mê và cưới bà về làm vợ. Để bày tỏ lòng yêu quý với người vợ này, Vương Chí Sình còn mời cả mẹ đẻ của bà Trương Mỹ Thuận sống cùng. Tuy chỉ là vợ ba, nhưng bà Trương Mỹ Thuận có quyền lực rất lớn. Bà quát câu nào, không một gia nô nào trong nhà dám không nghe. Mọi lệnh bà đưa ra đều coi như là mệnh lệnh của Vương Chí Sình. Ngay cả mẹ đẻ của bà Trương Mỹ Thuận cũng được tôn kính như thế.

Năm 1945, khi Vương Chí Sình về Hà Nội gặp Bác Hồ, chính bà Trương Mỹ Thuận là người đã đi theo Vương Chí Sình và chứng khiến chồng mình kết nghĩa anh em với Bác Hồ.

Bà Trương Mỹ Thuận rất yêu chồng và cũng rất được Vương yêu quý, tin tưởng. Nhưng cũng như những người vợ trước của Vương Chí Sình, bà không thể sinh cho Vương con nối dõi. Khi đó, trong nhà Vương có một người hầu gái xinh đẹp, có gốc là người Hán. Người hầu gái này do cha mẹ nợ Vương nên đã phải gán cho Vương để trả nợ. Trong nhà Vương, nhiệm vụ của cô hầu gái là lo đấm bóp và tiêm tẩu thuốc cho Vương mỗi khi Vương hút thuốc phiện.

Khi người hầu gái này về nhà Vương một thời gian, bà Trương Mỹ Thuận đã đề nghị Vương cưới người hầu gái này làm vợ. Một thời gian sau, người hầu gái mang bầu và sinh ra cho Vương một người con trai nối dõi duy nhất đặt tên là Vương Duy Thọ.

Nhờ sinh con cho Vương, địa vị của người hầu gái này trong gia đình họ Vương đã thay đổi hoàn toàn. Năm 1958, sau khi Vương Chí Sình xuống Hà Nội làm Đại biểu quốc hội, giao lại Đồng Văn cho Chính phủ, ông đưa cả bà Trương Mỹ Thuận và cả mẹ con người hầu gái về sống trong ngôi nhà 55 Hàng Đường. Tuy được Vương hết lòng yêu quý nhưng vì khoảng cách tuổi tác giữa Vương và người vợ thứ 4 chênh lệch của lớn nên sau một thời gian, người vợ thứ 4 của Vương đã bỏ Vương để đi lấy chồng khác. Nghĩ mình không thể chiều vợ, Vương đồng ý cho người vợ thứ 4 đi lấy chồng mới, chỉ giữ lại người con trai là Vương Duy Thọ.

Theo lời ông Vừ Mí Kẻ, gia nhân thân tín của Vương Chí Sình , sau khi hiến hầu như toàn bộ tài sản của mình cho nhà nước, Vương Chí Sình sống một cuộc sống không quá giàu có, chỉ ở mức khá giả trong ngôi nhà số 55 Hàng Đường. Dù ở Hà Nội lâu, nhưng có một thói quen Vương không bao giờ bỏ được đó là hút thuốc phiện. Thời đó chưa có chính sách cấm hút thuốc phiện như bây giờ. Mỗi lần ông Vừ Mí Kẻ xuống Trung ương họp, ông đều phải mang theo ít thuốc phiện từ Đồng Văn xuống cho Vương.

Nhà nghiên cứu người Mông Hùng Đình Quý kể lại rằng, tuy sống ở giữa Thủ đô và không có dịp quay lại Đồng Văn cho đến tận lúc chết, nhưng Vương Chí Sình không bao giờ nguôi nhớ Đồng Văn. Mỗi lần có người Mông xuống thăm, ông đều nhắc nhở người Mông Đồng Văn về lòng tự hào của dân tộc Mông và ý thức vươn lên. Có lần nhà nghiên cứu Hùng Đình Quý – khi đó còn đang đi học, đến thăm Vương, Vương lúc đó đã yếu nhưng không quên nhắc: “Chúng mày phải đi học, không học không biết chữ, các dân tộc khác sẽ coi thường mình, người Mông sẽ thua các dân tộc khác”.

Sau khi Vương Chí Sình mất, ông được đưa về Đồng Văn chôn cất trong bộ áo quan do chính Bác Hồ tặng. Người con trai duy nhất của vua Mèo Vương Chí Sình là Vương Duy Thọ sau này đã lấy vợ, sang Mỹ. Tuy là giọt máu cuối cùng của vua Mèo Vương Chí Sình, nhưng kể từ khi sang Mỹ với vợ, Vương Duy Thọ chưa một lần quay lại cố hương. Vương Duy Thọ đoản mệnh và sau này đã qua đời ở Mỹ khi còn khá trẻ. Dòng dõi của vua Mèo Vương Chí Sình ở Mỹ có lẽ đã quên đi phần nào gốc gác và những câu chuyện huyền thoại về gia tộc mình.

Vua Mèo Vương Chí Sình Là Ai

BTV

Vua Mèo Vương Chí Sình là ai là câu hỏi khiến nhiều người không khỏi tò mò bởi mới đây dòng chữ “Tận trung báo quốc, bất thụ nô lệ” khắc trên bia bộ của ông được người ta nhắc đến.

Vua Mèo Vương Chí Sình là ai là câu hỏi khiến nhiều người không khỏi tò mò bởi mới đây dòng chữ ” Tận trung báo quốc, bất thụ nô lệ” khắc trên bia bộ của ông được người ta nhắc đến, đây cũng là dòng chữ trên thanh gươm Bác Hồ tặng cho Vua Mèo.

Vua Mèo là gì?

Vua Mèo hay Vua Mông là một chức vụ thủ lĩnh tinh thần của dân tộc H’Mông, Việt Nam, Lào. Chức này có trước Cách mạng tháng 8, sau đó chính quyền mới không công nhận chức này trong nước. Vì mang tính tự trị tuyệt đối, kinh tế chủ yếu dựa vào trồng cây anh túc chế xuất buôn bán thuốc phiện. Ngày nay vua Mèo là một từ của huyền thoại, quá khứ của người dân tộc H’Mông.

Vua Mèo Việt Nam và vua Mèo Vương Chí Sình

Ông vua lúc bấy giờ là Vương Chính Đức, vương quốc của ông ở huyện Đồng Văn vương triều có sức mạnh, thao túng toàn bộ khu vực cực Bắc cũng như toàn bộ vùng Đông và Tây Bắc. Lúc đó có 7 vạn dân, dân số đa phần trồng cây anh túc.

Trước năm 1945, tuy bị sức ép từ nhiều phía, các bên ép làm thân nhưng Vương Chí Sình muốn xây dựng Đồng Văn thành một vương quốc tự trị của người Mông, không theo Pháp cũng không theo Tưởng Giới Thạch. Các phe đối lập cũng không dám lật đổ Vương, bởi chỉ có Vương mới quy phục được cư dân ở vùng này.

Sau đó, 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh mời ông lên Hà Nội gặp mặt nhưng do tuổi đã cao nên ông cử con trai thứ hai, người được coi là kế nghiệp vua Mèo là ông Vương Chí Sình đi thay. Sau đó Vương Chí Sình làm việc cho chính phủ Hồ Chí Minh, thành một đại biểu quốc hội khóa I và khóa II.

Trước khi về hưu, Vương Chí Sình còn giữ chức chủ tịch huyện Đồng Văn. Vai trò vua Mèo yếu dần, vì cùng hòa hợp với cả nước xây dựng một nhà nước thống nhất. Vương Chí Sình mất năm 1962 ở Hà Nội và linh cữu được đưa về Hà Giang, an táng tại Phó Bản sau đó được cải táng về khu di tích nhà Vương như hiện nay.

Người dân kể về vua Mèo Vương chí Sình

Từ trước đến nay, không riêng gì người Hà Giang, với cả những người khác mà “bán kính” sinh sống xa dần nơi địa đầu Tổ quốc thì Vương Chí Sình ông “vua” người Mông cực Bắc vẫn là một cái gì đó rất bí hiểm và gây ra nhiều sự tò mò, hiếu kỳ.

Người chưa biết thì hỏi, người biết thì không tường tận, cụ thể nên trong câu chuyện “làm quà” đã có ý “xê dịch nội dung”, thậm chí bịa đặt cho cuộc đời vị “vua” này thêm nhiều yếu tố để có tính hấp dẫn. Cái kiểu “tam sao thất bản” trên đã tạo ra những huyền thoại, những câu chuyện kỳ ảo “xoay tít mù” xung quanh con người Vương Chí Sình. Ngoài sự giầu có, ngoài tài năng hơn người đời… nhiều người còn quả quyết là Vương Chí Sình còn có phép thuật, tà đạo để thuyết dụ mọi người, đặc biệt các dân tộc thiểu số vùng núi phía Bắc.

Theo ông Kẻ người thân cận bên Vương Chí Sình cho hay, Vương Chí Sình không thích người ta gọi mình là “vua”. Ông ta cũng chưa bao giờ vỗ ngực hay tự quảng bá cái danh hiệu ấy của mình trước bàn dân thiên hạ. Theo ông Kẻ có lẽ người đời “quen gọi” Vương Chí Sình là Vua bắt đầu từ tên họ của ông.

Ở Hà Giang ngày nước ta chưa độc lập thì đây là vùng khá âm u và tù hãm. Người dân tộc thiểu số đặc biệt là người Mông, ngoài văn hóa riêng của mình còn bị ảnh hưởng khá lớn bởi nền văn hóa Trung Hoa, đặc biệt là văn hóa vùng Quảng Đông. Bị ảnh hưởng, những người có vị thế và hiểu biết trong xã hội ở cộng đồng dân tộc này đã dùng họ để gọi nhau như một sự tôn trọng. Người ta đã gọi ông Sình là ông Vương, và sự hoán vị giữa họ và cách dịch nôm Vương – Vua đã cho ra đời một chức hiệu.

Vua Mèo Vương Chí Sình là ai?

Vương Chí Sình (tên thật là Vàng Seo Lử, được Bác Hồ đặt tên là Vương Chí Thành) có một dinh thự tại Sà Phìn (huyện Đồng Văn – Hà Giang). Chiếc nhà này bây giờ là nơi làm việc của ủy ban nhân dân xã Sà Phìn. Ngay cả việc dựng chiếc dinh thự này cũng có bao điều thực hư. Về số tiền xây dựng, số nhân công góp sức đến những viên đá xanh có mài bạc cùng hai chiếc cột đá ngoài cổng vào cũng tiềm ẩn bao chuyện hoang đường, mỗi người một kiểu.

Mộ của Vua Mèo Vương Chí Sình có gì đặc biệt

Dinh thự này được xây dựng là do tính thích ngao du của Vương Chí Sình: Ngoài các các tỉnh phía Bắc thậm chí ông còn đến Bắc Kinh, Thượng Hải của Trung Quốc. Được đi, tầm nhìn được khám phá, lại là người có tiền nên Vương Chí Sình đã quyết định xây ngôi nhà có dáng dấp một biệt thự để nghỉ ngơi. Người dân thấy to, không quen với cái danh từ biệt thự nên gọi dinh và gọi mãi thành quen. Dinh thự này nằm trên một quả đồi nhỏ trong thung lũng Sà Phìn, xung quanh là các ngọn núi đá nhô lên. Ngoài phần đá xanh, ngói ống xây nhà được gia cố theo phương pháp thủ công, dinh thự này còn có vườn, có đồi cây trồng loại thông sa mộc rất đẹp.

Theo mô tả của ông Vù Mý Kẻ thì Vương Chí Sình cao khoảng 1m64. Ông ta ăn uống khá điều độ, không khó tính. Tuy không cao nhưng Vương luôn biết giữ sức khỏe nên ông ta rất nặng. Ông Kẻ không biết rõ ông ta nặng bao nhiêu nhưng mỗi lần Vương đi đâu thì đám người giúp việc cáng phải cần đến 6 người và khiêng rất vất vả. Khác với những gì được mô tả trong nhiều truyện (do sự chi phối của bút pháp văn học) hay các phim xây dựng về nhân vật này thì Vương Chí Sình khá sạch và có biết làm chính trị. Ngoài đến với dân theo kiểu giao lưu hàng xóm láng giềng hay giữa những người cùng sắc tộc thì bao giờ ông ta cũng mặc áo sơ mi có com – lê mặc ngoài. Tất cả mọi thái độ, cử chỉ và cách ăn mặc của ông ta rất đĩnh đạc và phong thái.

Ngày nay trong dinh thự của Vương Chí Sình ở Sà Phìn thì hậu duệ (nghe đâu đã là đời thứ 4, thứ 5) của ông vẫn còn người ở lại. Cũng có lời đồn đại rằng trong dinh thự của Vương vẫn còn được chôn cất khá nhiều vàng bạc của cải nên sự có mặt của những người kia chỉ là “cái cớ” để bảo vệ kho báu vô giá ấy. Nhưng theo ông Kẻ thì Vương Chí Sình không còn nhiều của sau đợt tự nguyện quyên góp vàng bạc trong Tuần lễ vàng của Chính phủ (Trong đợt quyên góp này, Vương Chí Sình đã đóng góp 22.000 đồng bạc trắng hoa xòe và và 9 cân vàng).

Mộ Vua Mèo Vương Chí Sình có dòng chữ “Tận trung báo quốc, bất thụ nô lệ”. Đây là dòng chữ trên thanh gươm Bác Hồ tặng cho Vua Mèo.

Bia mộ Vua Mèo ghi tên ông là Vương Chí Thành cùng chức danh Đại biểu quốc hội khóa I và II nước VNDCCH. Đây là tên Bác Hồ gọi Vương Chí Sình sau khi kết nghĩa anh em với ông. Mộ phần còn có dòng chữ “Tận trung báo quốc, bất thụ nô lệ”. Dòng chữ này từng được khắc trên thanh gươm Bác Hồ tặng cho Vua Mèo.

Sau khi Cách mạng Tháng tám thành công, Vua Mèo Vương Chí Sình đã một lòng theo sự nghiệp cách mạng. Tại khóa Quốc hội đầu tiên của nước ta năm 1946, ông vinh dự được bầu là đại biểu Quốc hội. Là một người có tiếng nói lớn, ông đã tuyên truyền vận động người dân Hà Giang một lòng theo chính quyền mới, xóa bỏ những hủ tục lạc hậu, sống định canh định cư.

Cạnh mộ Vua Mèo Vương Chí Sình có mộ người vợ thứ ba của ông là bà Trương Mỹ Thuận.

Theo lời kể, bà Trương Mỹ Thuận là một người phụ nữ Hà Nội xinh đẹp. Trong một chuyến đi buôn, ngay lần đầu gặp gỡ, Vương Chí Sình đã lập tức say mê và cưới bà về làm vợ.

Để bày tỏ lòng yêu quý người vợ, Vương Chí Sình còn mời cả mẹ đẻ của bà về sống cùng. Tuy chỉ là vợ ba, nhưng bà Trương Mỹ Thuận có quyền lực rất lớn. Bà quát câu nào, không một gia nô nào trong nhà dám không nghe. Mọi lệnh bà đưa ra đều coi như là mệnh lệnh của Vương Chí Sình.

Năm 1945, khi Vương Chí Sình về Hà Nội, chính bà Trương Mỹ Thuận là người đã đi theo Vương Chí Sình và chứng khiến chồng mình kết nghĩa anh em với Bác Hồ…

Vua Mèo Vương Chí Sình – một lòng theo cách mạng

Với đức tính giản dị, dễ gần và thương người nên ông Vương Chí Sình được người dân trong vùng kính trọng, khi Pháp – Nhật xâm lược nước ta, tấn công lên Hà Giang ông đã kêu gọi người dân trong vùng đứng lên chống lại, được người dân tôn làm Thủ lĩnh. Cảm kích trước tinh thần yêu nước của Vương Chí Sình, Bác Hồ đã kết nghĩa anh em với ông và đặt tên cho ông là Vương Chí Thành. Cảm cái nghĩa khí của ông, Bác Hồ còn tặng ông một thanh gươm có khắc dòng chữ “Tận trung báo quốc, bất thụ nô lệ” và một chiếc áo trấn thủ, chiếc áo này do Hội phụ nữ tỉnh Hải Dương may tặng Bác Hồ. Từ đó, vua Mèo đã tuyên truyền vận động người dân một lòng theo Đảng, xóa bỏ những hủ tục lạc hậu,giã từ cây anh túc, sống định canh định cư, cuộc sống của người H’Mông không còn trầm luân bên bờ mê lú của loài hoa thuốc phiện.

Tại khóa Quốc hội đầu tiên của nước ta ( năm 1946), ông Vương Chí Sình được bầu là đại biểu Quốc hội.

Cũng trong năm 1946, ông Vương Chí Sình về Hà Nội mua căn nhà số 55 phố Hàng Đường, để ở, lúc đó ông vẫn ăn mặc giản dị theo trang phục truyền thống của người H’Mông. Đến khi là đại biểu Quốc hội năm 1946, lúc đó ông mới mua quần áo Tây, compele để mặc đi dự họp, khi về nhà ông lại ăn vận quần áo vải dệt tràm đen của người H’Mông.

“Khi tôi xuống Hà Nội ở với ông, nhìn thấy người ăn xin trên phố, ông nội tôi nói với các con cháu rằng, nếu các con, cháu không chịu khó lao động thì người đi ăn xin lại chính là ta đấy, tức là nếu chúng tôi không chịu khó lao động thì chúng tôi sẽ trở thành người ăn xin giống họ”, ông Bảo nói.

Ngày 11/6/1948 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc lời Kêu gọi thi đua ái quốc trước quốc dân, đồng bào. Người đã chỉ rõ “Mục đích của thi đua ái quốc là diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm”, hưởng ứng lời kêu gọi của Bác Hồ, hàng đêm Vương Chí Sình lại cùng người dân đội mũ rơm, ở chân trần đi học lớp Bình dân học vụ, cũng chính điều này giúp ông nghiệm ra một điều kiến thức văn hóa rất cần thiết đối với tương lai mỗi người. Từ đó, ngay khi các con còn nhỏ ông đã cho đi học văn hóa, thậm chí đưa con sang tận Côn Minh, Trung Quốc để học. Đến nay, hầu hết các con cháu ông đều thành đạt cả.

Khi giác ngộ cách mạng, được Bác Hồ tin tưởng, ông “Vua Mèo” – Vương Chí Sình đã dồn hết tâm huyết của mình cho cách mạng. Trước khi qua đời ở tuổi 60 vào cuối năm 1960, ông đã trăn trối với con cháu rằng: “Khi ta mất, hãy đào tất cả của cải của ta đang chôn ở nhà để cống hiến cho Nhà nước”.

“Sau khi ông nội mất, tôi cùng gia đình đã đào kho báu của ông để lại đem hiến cho Nhà nước, khi đào kho báu lên, vàng, bạc nhiều vô kể, bóng loáng, lấp lánh được đem lên đổ đầy sân trước dinh thự, con cháu tập trung đếm một ngày không hết”, ông Bảo nhớ lại.

Để ghi nhận những đóng góp của ông “Vua Mèo” – Vương Chí Sình, Nhà nước đã trao tặng cho ông huân chương “Đại đoàn kết dân tộc”. Tiếp nối đức tính giản dị, thật thà của ông Vương Chí Sình, các con, cháu đời sau đã không ngừng học tập, lao động để vươn lên thoát khỏi đói nghèo, một lòng theo Đảng, không ngừng cống hiến cho đất nước.

Mới đây, cơ quan Công an đã bắt giữ Park Yoochun để điều tra về hành vi nghi sử dụng ma túy. Vậy Park Yoochun là ai?.

Nguyễn Văn Đệ là ai và Bầu Đệ có tài sản bao nhiêu vẫn luôn là câu hỏi được quan tâm của nhiều người.

Đến Sa Pa Viếng Dinh Vua Mèo Hoàng A Tưởng

Xưa kia, Hoàng Yến Chao, người dân tộc Tày, là thổ ti cai trị xứ Bắc Hà (tỉnh Lào Cai), dân trong vùng quen gọi là “Vua Mèo” đã cho xây dựng dinh thự tại châu Bắc Hà để khẳng định uy quyền và sự giàu của mình.Gần 100 năm trôi qua, dinh Vua Mèo Sa Pa vẫn đứng sừng sững giữa bao la núi đồi, trở thành một địa điểm du lịch nổi tiếng của Bắc Hà.

Khởi công năm 1914, song đến năm 1921, dinh Vua Mèo mới được hoàn thành. Chủ nhân của dinh là cha con Hoàng Yến Chao, Hoàng A Tưởng. Hoàng A Tưởng cũng là một thổ ti ở Bắc Hà cho đến ngày Lào Cai được giải phóng. Vì thế, ngoài cái tên dinh vua Mèo, người ta còn gọi đây là dinh Hoàng A Tưởng.

Khu dinh thự vua Mèo là một kết cấu kiến trúc khá đặc biệt so với kiến trúc các dinh thự khác tại Việt Nam thời bấy giờ. Dinh vừa là nơi để ở của cha con Hoàng Yến Chao, Hoàng A Tưởng, song cũng là nơi làm việc và còn có chức năng pháo đài bảo vệ. Toàn bộ dinh có kiến trúc hình chữ nhật liên hoàn khép kín, với tổng diện tích 4.000m2, có tường rào bảo vệ, bốn phía tường đều có lỗ châu mai như pháo đài và có lính canh giữ. Ngày nay, khi đi du lịch vùng Tây Bắc thì nơi này là một địa điểm ko thể bỏ qua.

Dinh được hai kiến trúc sư người Pháp và người Trung Quốc thiết kế. Vì vậy, kiến trúc của dinh có sự hòa quyện giữa kiến trúc Pháp hồi thế kỉ 17-18 và kiến trúc phương Đông. Trong đó nổi lên là các nét kiến trúc phương Tây được thể hiện trong những chi tiết như họa tiết cành nguyệt quế đắp nổi trên các cửa vào, biểu tượng cho hạnh phúc và thịnh vượng; cửa lan can trổ ra hình vòm, cột nhà thanh thoát, lan can, cầu thang vòng, hành lang lát gạch.

Kết cấu bên trong của dinh khá đẹp. Qua cửa chính, bên trong là một khu sân rộng, xưa là nơi diễn ra các hoạt động chính của nhà thổ ti. Khu nhà chính phía cuối sân, có hai tầng với diện tích 420m2, thường là nơi hội họp của gia đình.

Ngoài ra, khu dinh còn có các hạng mục khác như hai dãy nhà phụ ở hai bên, mỗi dãy nhà có hai tầng thấp hơn dãy nhà chính, gồm ba gian với diện tích 300m2. Đây là nơi sinh hoạt của các bà vợ Hoàng Yến Chao và Hoàng A Tưởng. Ngoài ra còn có thêm hai dãy nhà phụ hai tầng có kiến trúc đơn giản hơn dùng làm nơi ở cho quân lính, phu phen và người hầu.

Đi Du Lịch Sapa Viếng Dinh Vua Mèo Hoàng A Tưởng

Dinh thự vua Mèo được xây dựng từ năm 1914 và được hoàn thành vào năm 1921 do Hoàng Yến Chao người dân tộc Tày là thổ ti cai trị xứ Bắc Hà tỉnh Lào Cai được người dân trong vùng gọi là vua Mèo xây dựng tại Châu Bắc Hà để khẳng địn uy quyền cũng như sự giàu có của mình. Gần hơn 100 năm trôi qua những dinh vua Mèo vẫn đứng sừng sững giữa núi đồi rộng lớn và trở thành một trong những điểm du lịch nổi tiếng của Bắc Hà.

Hoàng Yến Chao có 3 người vợ và có tổng cộng 7 người con trong đó có 2 người con trai và 5 người con gái. Vợ cả của ông là người Tày đến với ông bằng tình yêu chân chính và lấy ông khi ông còn chưa được thực dân Pháp sử dụng, bà sinh cho ông được 3 người con, 2 người con trai và một người con gái, con trai cả là Hoàng A Tiến và con trai thứ là Hoàng A Tưởng. Sau đó ông lấy thêm vợ hai, bà sinh cho ông được 2 người con gái và ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ . Sau khi bà hai mất ông đã lấy thêm bà ba người gốc Hoa sang làm ăn buôn bán nhưng bà này kinh doanh giỏi vốn lại thích tự lập nên sống 1 thời gian ở khu biệt thự và ra ngoài sống độc lập.Lý do Dinh thự Vua Mèo hay còn gọi là dinh Hoàng A Tưởng theo các già làng nơi đây kể lại thì ngày đó từ khi còn nhỏ ông Hoàng A Tưởng đã thông minh sắc sảo hơn người và được cha Hoàng Yến Tchao vô cùng yêu mến về sau mọi việc lớn nhỏ trong nhà đều do con trai thứ Hoàng A Tưởng đảm nhiệm vì thế mà dinh thự này còn có tên gọi là dinh thự Hoàng A Tưởng mà không phải đặt theo tên gọi của con trai trưởng. Họ còn kể lại rằng gia tộc họ Hoàng là gia tộc có quyền thế nhất thời bấy giờ , ông Hoàng Yên Tchao là thổ ty vùng Bắc Hà là một quan chức ở vùng dân tộc thiểu số trước đây, những vùng đất tốt nhất màu mỡ nhất đều do ông cướp đoạt của nông dân và chiếm giữ , ngoài ra ông còn bắt nông dân ở những vùng khác phục dịch hầu hạ theo thời gian nhất định. Đặc biệt ông còn dựa vào đặc quyền đặc lợi mà Pháp ban cho ông còn độc quyền buôn bán muối, hàng tiêu dùng và khai thác thổ sản, buôn bán thuốc phiện cho Pháp, cung cấp lương thực thực phẩm cho thực dân Pháp và tay sai đó là lý do mà gia tộc họ Hoàng lại là gia tộc có quyền lực nhất ở Bắc Hà ngày đó.

Dinh thự Hoàng A Tưởng được 2 kiến trúc người Pháp và người Trung Quốc thiết kế vì vậy dinh thự có sự hòa quyện giữa 2 kiến trúc Pháp hồi thế kỉ 17-18 và kiến trúc Phương Đông trong đó nổi lên là những nét kiến trúc Phương Tây được thể hiện những chi tiết họa tiết như cành cây nguyệt quế đắp nổi lên ở các cánh cửa ra vào đây là biểu tượng của sự thịnh vượng sự hạnh phúc., cột nhà thanh thoát cửa lan can trổ ra hình vòm, cầu thang vòng và hành lang lát gạch.

Kết cấu bên trong của dinh thự khá đẹp. Sau khi đi qua cửa chính sẽ đến 1 khu rộng ở bên trong, đây là nơi ngày xưa diễn ra các hoạt động chính của thổ ty. Còn khu nhà chính phía cuối sân có 2 tầng với diện tích rộng từ 420m2 các cửa nhà hình vòm, tuy các cửa cao thấp không bằng nhau nhưng cân đối và hành lang có lan can. Trước các cửa đều được đắp pháo nổi, cả 2 tầng nhà chính đều có 3 gian mặt chính được trang trí với nhiều họa tiết công phu, hai bên phải trái có đắp nổi 2 câu đối mang nội dụng chúc gia đình gia tộc hiển vinh.

Hai bên tả hưu là 2 dãy nhà ngang với bố cục và kiến trúc giống nhau, mỗi dãy đều có 2 tầng mỗi tầng có diện tích 300 m2, với 3 gian nhưng thấp hơn nhà chính. Nằm cạnh 2 dãy nhà còn có 2 nhà phụ có diện tích là 180 m2 bao gồm 2 tầng nhưng kiến trúc đơn giản dùng để làm nhà kho và là nơi để phu và lính ở.